EVFTA VÀ NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM: CẦN NHIỀU NỖ LỰC HƠN NỮA

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có hiệu lực từ tháng 8/2020 mở ra nhiều cơ hội trong quan hệ đối tác toàn diện giữa hai bên. Sau một năm nhìn lại, từ bối cảnh đại dịch toàn cầu, tác động của EVFTA đến ngành dược phẩm đã có những kết quả dần rõ nét, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Châu Âu.

Dược phẩm là ngành rất đặc thù, bên cạnh chịu việc điều chỉnh của những hiệp định thương mại, nó còn đứng dưới sự quản lí chặt chẽ của Bộ Y Tế (MOH), Cục Quản lý Dược (DAV), Luật dược,...

Những cam kết về thuế từ EVFTA chưa tạo ra những chuyển biến đáng chú ý nào trong ngắn hạn.

Điều này là do nguyên tắc tối huệ quốc (MNF) đã được áp dụng cho ngành dược và thiết bị y tế nhập khẩu đến châu Âu từ lâu. Bên cạnh đó, EVFTA loại bỏ 71% thuế suất ở thuốc và vật liệu phục hồi trong nha khoa ngay khi có hiệu lực

EVFTA and VIETNAM PHARMA

Mặc dù, thuế suất của nguyên tắc tối huệ quốc (MNF) trước đây đã gần như bằng không. Phía Việt Nam sẽ dần loại bỏ đánh thuế trong 5 -7 năm tới cho các loại dược phẩm và dược liệu còn lại, hiện tại đang có phần trăm thuế 5-8%.

 

Với các cam kết liên quan đến lĩnh vực dược phẩm sau khi EVFTA có hiệu lực, dược phẩm từ EU vào Việt Nam về nguyên tắc sẽ thuận tiện hơn, dễ tiếp cận hơn và trực tiếp hơn. Tuy nhiên, các thành viên của chúng tôi nói riêng cũng như các công ty dược nói chung còn gặp rất nhiều khó khăn. Một trong những thách thức lớn của chúng tôi liên quan đến việc đăng ký thuốc, bao gồm đăng ký mới, đăng ký lại và giấy chứng nhận gia hạn giấy phép.

Một mặt, các công ty dược phẩm châu Âu ghi nhận những nỗ lực của chính phủ, Bộ Y tế và Cục Quản Lý Dược Việt Nam trong việc tăng cường đối thoại và lắng nghe những khó khăn của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Đặc biệt, khung pháp lý chưa có nhiều chuyển biến tích cực. Những khó khăn này chủ yếu chỉ được giải quyết tạm thời chứ không phải một cách bền vững và lâu dài.

Về phía Việt Nam, đã có một số dấu hiệu đáng mừng về sự thay đổi tư duy. Ví dụ, vai trò của các doanh nghiệp EU đã được đề xuất cân nhắc khi GMP-EU được chọn làm một trong những tiêu chí đánh giá trong các gói thầu dành cho bệnh viện (thuộc nhóm đã cam kết mở cửa cho các nhà thầu EU). Điều này đang được tiếp tục duy trì và củng cố.

Đối với chuỗi cung ứng và phân phối dược phẩm, sau EVFTA, Việt Nam đã cởi mở hơn. Mặc dù Nghị định 54/2017 / NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Dược được ban hành đã cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép nhập khẩu thuốc bằng cách chuyển đổi mô hình hoạt động từ văn phòng đại diện sang công ty TNHH dược. Điều này giúp các doanh nghiệp dược phẩm EU tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và phân phối thuốc tại thị trường Việt Nam.

 

Tuy nhiên, nghị định còn đưa ra nhiều hạn chế khác, trong đó có khái niệm kinh doanh dịch vụ phân phối, lưu kho và vận chuyển thuốc. Những điều này đã cản trở các doanh nghiệp châu Âu triển khai kế hoạch đầu tư và hoạt động kinh doanh hiệu quả, đồng thời họ không trực tiếp đưa thuốc đến bệnh viện cho bệnh nhân. Thậm chí, một số trường hợp phi mậu dịch, doanh nghiệp nước ngoài muốn tặng thuốc để hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân. Tuy nhiên, thủ tục rất phức tạp và vòng vo, làm tăng chi phí và không khích lệ được doanh nghiệp khi muốn hỗ trợ bệnh viện.

Còn việc thu hút các doanh nghiệp dược phẩm EU đầu tư sản xuất tại Việt Nam vẫn còn những rào cản nhất định. Đầu tư nước ngoài chưa có cơ hội phát triển mạnh do các quy định, quy chế chưa hoàn thiện, đặc biệt là những vấn đề cần sự tham gia của nhiều bộ, ngành.

Các công ty dược phẩm Châu Âu, với sự hỗ trợ của EuroCham, mong muốn tiếp tục hợp tác với chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện các quy định một cách nhanh chóng và hiệu quả. Đặc biệt, chúng tôi hy vọng sẽ cải thiện quy trình mua bán công một cách minh bạch và lập kế hoạch theo lộ trình và có đối thoại song phương để các công ty chuẩn bị cho những thay đổi, nếu có. Các doanh nghiệp dược phẩm EU cũng cần tăng cường hợp tác với phía Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác công tư, mang lại nhiều lợi ích thiết thực hơn cho cộng đồng.

Việt Nam ngày nay là động lực để ngành dược tiếp tục phát triển. Chính phủ cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ hơn nữa. Chính phủ cũng cần điều chỉnh và sửa đổi các quy định pháp luật trong ngành dược phẩm để tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế và phù hợp với EVFTA.

Đất nước cần tiếp tục hướng tới sự công khai, minh bạch, tạo môi trường đầu tư ổn định và lâu dài, thúc đẩy đầu tư của châu Âu, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người bệnh.

XEM THÊM

Zalo